Home
 
ENGLISH EDITION
HyperLink
Tổng biên tập
NGUYỄN CÔNG KHẾ
  Chứng khoán online
  Lịch phát sóng
   Chuyển đổi font chữ
  Đường dây nóng
  Thông tin tòa soạn
THANH NIÊN ONLINE
Diễn đàn của Hội liên hiệp Thanh niên Việt Nam
Giấy phép xuất bản số
14/GP-BC cấp ngày 25/9/2003
Tòa soạn:
248 Cống Quỳnh, Q.1, TPHCM
Điện thoại: (84.8) 8394046
Fax: (84.8) 8322025
E-mail:
toasoan@thanhnien.com.vn
SỨC KHỎE  
Bài thuốc chữa rối loạn cương
15:36:26, 07/08/2008
Rối loạn cương dương là tình trạng lúc “hành sự”, người đàn ông không có khả năng đạt đến và duy trì mức độ cương cứng của dương vật trong khoảng thời gian cần thiết...

Dương hư và âm hư

Theo lương y Phạm Như Tá (Hội Đông y Q.Bình Thạnh, TP.HCM): rối loạn cương dương (RLC) là hiện tượng dương vật cương không đủ cứng hay không giữ được độ cương cứng, làm mất khả năng đi vào âm đạo trong khi giao hợp. Ở phương diện y học cổ truyền gọi tình trạng này là "thận suy", "dương nuy". Ngoài ra, RLC còn có hiện tượng dương vật bị mềm sớm trước khi xuất tinh; thiếu cảm hứng tình dục; không xuất tinh; xuất tinh sớm; thiếu hay mất cực khoái...

Y học cổ truyền chia RLC ra làm hai thể, gồm: thể thận dương hư và thể thận âm hư. Thể thận âm hư có các triệu chứng biểu hiện ra trên lâm sàng như: bứt rứt, hồi hộp, khó ngủ, người mau quên, tiểu nhiều vào ban đêm, đau lưng, mỏi gối, ù tai, giảm thính lực, hoa mắt, nóng về đêm, ra mồ hôi trộm, người khô khát, cầu táo, tiểu vàng, huyết áp dao động, lòng bàn tay, bàn chân nóng... còn gọi là "Âm hư sinh nội nhiệt". Nhất là quan hệ tình dục không có "lực" hay mất sức, xuất tinh sớm, dù người đàn ông có muốn chăng nữa, nhưng "nó" vẫn không thể làm theo ý muốn

Thứ hai là thể thận dương hư, người đàn ông sẽ có một số triệu chứng trên lâm sàng như: thận âm hư, và những biểu hiện nổi bật như di tinh, hoạt tinh, dương nuy bất cử, giao hợp hay bị tình trạng xuất tinh sớm, "không lực", nước tiểu trong dài, tiểu về đêm nhiều, người cảm thấy lành lạnh ở phần thắt lưng và hai chân, hay bị rối loạn tiêu hóa và thường đi cầu vào lúc sáng sớm, có khi lạnh buốt hai chân, lòng bàn tay, bàn chân hay lạnh - tình trạng "Dương hư sinh ngoại hàn".

Phương thuốc trị

Bệnh lý võng mạc. Vào ngày 8.8, Trung tâm Truyền thông - Giáo dục sức khỏe (TP.HCM) phối hợp cùng các bác sĩ của Bệnh viện Mắt (TP.HCM) tổ chức chương trình trò chuyện với thầy thuốc về chủ đề "Bệnh lý võng mạc ở người bệnh tiểu đường". Chương trình diễn ra từ 14 - 16 giờ. Vào cửa tự do tại số 59B Nguyễn Thị Minh Khai (Q.1, TP.HCM).

Kỹ thuật mới chẩn đoán bệnh ở đường tiêu hóa. Trung tâm Chẩn đoán y khoa - Medic (TP.HCM) vừa đưa vào thực hiện kỹ thuật mới trong chẩn đoán các bệnh lý ở đường tiêu hóa, có tên gọi Kỹ thuật "Nội soi viên nang". Nếu những trường hợp nội soi bao tử, nội soi đại tràng mà không phát hiện được bệnh, thì dùng phương pháp mới này để tìm bệnh; hoặc những ca bệnh bị xuất huyết tiêu hóa dây dưa không tìm ra tổn thương; hay dùng để chẩn đoán ung thư ở đường tiêu hóa...  

K.Vy

Theo lương y Phạm Như Tá, với thể thận âm hư thì có bài thuốc dùng chung có tên là "Lục vị địa huỳnh hoàn", bao gồm 6 vị thuốc, với các hàm lượng như sau: 16gr thục địa, 12gr đơn bì, 12gr phục linh, 10gr sơn thù, 10gr hoài sơn, và 8gr trạch tả (trạch tả đem sao rượu trước). Có thể gia thêm (cho thêm) các vị, hà thủ ô, ba kích, tích trí nhơn, chích bắc kỳ (mỗi loại 12gr), nhân sâm, tục đoạn (mỗi loại 8gr) và ngũ vị tử 4gr. Nếu huyết áp có giao động, thì y phương (với bài thuốc gồm 6 vị nói trên) và gia thêm: đỗ trọng bắc, kỷ tử, cúc hoa (mỗi loại 12gr), và 14gr ngưu tất bắc.

Còn với thể thận dương hư thì cũng dùng bài thuốc dùng chung là "Lục vị địa huỳnh hoàn" như trên và thêm quế - phụ (nhục quế 6gr, và phụ tử 4gr). Ngoài ra, tùy trường hợp mà có thể gia thêm các vị: nhục thung dung, dâm dương hoắc, tục đoạn, nhung nai (mỗi loại 10gr), ba kích, đỗ trọng bắc (mỗi loại 10gr), ích trí nhơn 8gr, và ngũ vị tử 4gr. Cách nấu những bài thuốc trên như sau: lần một -

cho các vị thuốc cùng 4 chén nước, sắc (nấu) còn lại 1 chén; lần hai cho vào 3 chén nước, nấu còn lại nửa chén. Hòa hai nước của hai lần lại chia làm 3 lần dùng trong ngày. Dùng vào trưa, chiều (trước bữa ăn hơn 1 giờ) và tối, lúc nước thuốc âm ấm. Riêng nhục quế thì để riêng, hãm nước sôi, khi sắc thuốc xong rồi mới cho vào.

V.Giao

 

in Phản hồi Gửi

     Các tin bài khác

Vấn đề quan tâm
Dịch tiêu chảy cấp nguy hiểm
H5N1 có lây truyền từ muỗi sang người?
Phòng bệnh tả bằng kinh nghiệm dân gian
Bệnh viêm phổi do virus Rhino
Dịch cúm gia cầm
Tập thể dục để ngừa sỏi mật
Ung thư tuyến giáp
Phẫu thuật nối thành công ca đứt lìa bàn tay
"Thuốc" giảm béo, coi chừng!
Phương pháp mới chữa rối loạn nhịp tim
Cảnh báo ung thư vú độ tuổi 20
Sữa cho trẻ có cần chia giới tính?
Bài thuốc trị chứng ra mồ hôi... trộm
Bác sĩ ơi, em đang... có bầu!
Tư vấn trực tuyến
Tư vấn trực tuyến sức khỏe
Video tư vấn sức khỏe
Trẻ 5 tháng chưa lật, có gì đáng lo?
Sống vui khỏe với bệnh tiểu đường
Muôn mặt sức khỏe
Cây trái trị bệnh
Bệnh ung thư
Phát hiện mới
Hỏi - đáp sức khỏe
Dinh dưỡng
Giấc ngủ và sức khỏe
Nam khoa

    Thông tin tòa soạn | Góp ý / Phản hồi | Đặt báo | Liên hệ quảng cáo | FAQ | Sơ đồ site | Phiên bản cũ | RSS | Font Unicode

© 2003 - 2008 Bản quyền thuộc về Báo Thanh Niên.

Ghi rõ nguồn Thanh Niên Online khi bạn phát hành lại thông tin từ website này.