Cha giống như con thú đã thành tinh, nhớ dai dẳng món ăn ngon ngày xưa. Dẫu cha đi nhiều, ăn nằm với đủ loại đàn bà nhưng món ăn được làm nên từ mẹ chẳng bao giờ làm cha chán. Hễ không ở nhà thì thôi, còn đêm nào cha về, tôi càng thấy thương mẹ nhiều hơn. Cha về, chẳng bao giờ nói với mẹ một câu nhẹ nhàng, dù những câu hỏi ấy chỉ để lấy lệ. Đại loại: "Khỏe không?", "Có thiếu thốn gì không?", "Cái chân bị khớp thế nào rồi?"... Chẳng bao giờ cha nói. Mẹ lầm lụi, im ỉm hơn những ngày trước kia. Mẹ phục dịch cha như từ trước tới giờ vẫn thế, như mẹ là người hiểu hơn ai hết bổn phận của mình. Bổn phận làm mẹ khổ. Bổn phận hành hạ mẹ. Mẹ không biết hay biết mà vẫn cứ cam chịu?
Nhà có hai gian, một gian làm bàn thờ và bên ngoài kê chiếc bàn gỗ làm bàn tiếp khách. Thực ra khách khứa nhà tôi không nhiều, chỉ đơn giản nó cần phải có trong mỗi nhà ở làng quê này. Một gian ngoài nữa thì kê chiếc giường đôi. Hai mẹ con vẫn thường ngủ ở chiếc giường ấy. Thuở nhỏ, tôi quen với nếp sống chỉ có hai người, là tôi và mẹ: ăn cơm hai người, đi ngủ cũng hai người. Những ngày cha về, tôi cảm thấy cuộc sống bị xáo trộn. Tôi không thích cha về. Cha về, mẹ phải tất tưởi sang hàng xóm vay nóng ít tiền để mua thức ăn cho cha cùng tiền xe khi cha đi. Để rồi sau đó mẹ lại lo làm việc quần quật kiếm tiền trả nợ. Bình thường, tôi và mẹ vẫn ăn cơm cùng nước mắm, muối vừng; hôm nào khá hơn thì có đĩa cá hoặc mấy miếng thịt ba chỉ. Bữa cơm có cha, thức ăn dọn đầy mâm nhưng tôi vẫn trệu trạo nhai từng miếng cơm. Nhạt thếch.
Tôi không thích cha về. Những ngày có cha, giấc ngủ của tôi nặng nề, thêm cả sự đau xót của thằng bé lên mười. Tôi thường bị đánh thức bởi những tiếng thở hổn hển, những tiếng cót két giường giữa đêm khuya. Chiếc giường tôi nằm là giường gỗ, giát được làm từ những thanh nứa mỏng. Bởi thế, với những cử động nhẹ cũng phát ra tiếng cót két. Tôi đưa đôi mắt ngái ngủ sang bên cạnh, bắt gặp cha đang nằm chễm chệ trên người mẹ. Ông thúc vào mẹ từng chặp từng chặp, mà tôi nghĩ là mẹ sẽ rất đau. Nỗi đau của số phận. Nhưng mẹ vẫn nằm im, để mặc...
Tôi nép mình vào phía trong bức tường, nước mắt đầm đìa hai bên má. Vừa cố để không phát ra những tiếng nấc nghẹn, vừa thấy thương mẹ quặn lòng. Sao mẹ cứ cam chịu? Mẹ không thương mình sao? Lúc ấy, tôi chỉ muốn mẹ vùng dậy và đuổi thẳng cha ra khỏi nhà. Đi đi. Và đừng bao giờ về nữa. Nhưng mẹ đã không làm thế. Tôi cảm thấy giận mẹ vô cùng. Trái tim non nớt của tôi như có ai đó bóp nghẹt, đau nhói. Sao cha tôi không đi luôn đi. Cả năm cả tháng vẫn biền biệt như thế, giờ còn về làm gì?
Sang ngày hôm sau, như mọi ngày, mẹ tôi lại ra đồng. Còn cha thì nằm kềnh càng trên giường. Tôi nhìn ông bằng đôi mắt rực lửa. Ước gì mình có đủ sức mạnh để đẩy khối thịt ấy ra khỏi nhà. Tôi muốn cuộc sống bình yên như trước giờ tôi vẫn sống với mẹ. Nhưng khi đi làm đồng về, mẹ tôi sẽ hỏi "cha đâu?" thì tôi biết trả lời thế nào. Cho nên, tôi đứng nép vào góc nhà rồi nhìn cha bằng đôi mắt của loài thú bị thương. Có vẻ như cha nhận ra vẻ khác lạ ấy của tôi nhưng không nói gì. Hoặc ông cho tôi là con nít, chẳng thèm chấp?
Trưa về, trong khi mẹ lo làm cơm thì cha đưa cho tôi chai thủy tinh nửa lít, bảo đến hỏi tiền mẹ rồi đi mua rượu cho ông. Tôi nói như hét: "Ông không có chân à?". Lập tức, ông tát tôi một cái nảy đom đóm kèm theo câu nói mà đến giờ tôi vẫn còn nhớ mãi: "Đồ đàn bà!". Tôi đau nhưng không khóc, vẫn ngoan cố đứng tựa vào cột nhà, không hề nhúc nhích. Mẹ bỏ dở công việc, vội vã đến cầm chai đi ra ngoài. Lúc về, ngoài chai rượu mẹ còn mua thêm mấy gói lạc rang. Cha ngồi, vừa nhâm nhi từng chén rượu vừa cho lạc vào nhai khau kháu. Cái dáng vẻ bụi bặm, phong trần ấy tôi không khi nào quên. Ông gọi tôi đến và bảo: "Mày phải uống đi cho nó có một chút khí chất. Không thì cũng là đồ bỏ đi thôi con ạ!". Tôi ghét cha. Và dường như những lời ông nói tôi đều bỏ ngoài tai. Tuy thế, tôi vẫn rón rén cầm chén rượu lên, chậm rãi đưa lên miệng. Cái vị cay xè thốc tháo từ miệng, chui tọt xuống họng làm tôi cứng đơ cả lưỡi, mắt nhắm nghiền.
Cha ào ạt đi như lúc ào ạt về. Mẹ không buồn mà cũng không vui. Chỉ có tôi là cảm thấy khấp khởi trong lòng. Năm nào cũng vài ba lần như thế. Hồi cha bỏ đi tôi mới lên năm. Ngày nhỏ tôi gần gũi với mẹ nhiều hơn nên việc cha bỏ đi cũng bình thường như chuyện mấy đứa bạn cạch mặt, không thèm chơi với tôi. Sau này, đủ hiểu biết hơn một chút, nghe người làng xì xào về cha mình, cộng thêm việc chứng kiến bao vất vả mà một mình mẹ phải gánh chịu, tôi bắt đầu thấy ghét cha. Mẹ tỏ ra không bằng lòng vì thái độ ấy của tôi. Nhưng mẹ không quát mắng hay bắt tôi phải thế này thế nọ mà đêm đêm, khi nằm ngủ, mẹ chỉ vuốt vuốt lên tóc tôi rồi khóc thút thít. Tôi lặng đi trong bàn tay của mẹ.
Cha tôi đi biền biệt nhưng tin tức về ông lại khá phong phú ở làng. Có người bảo cha đang sinh sống như vợ chồng với một người đàn bà ít hơn mẹ năm tuổi. Người khác lại bảo cha đã có hai con với cô thư ký của mình. Cha đang là giám đốc, rất giàu. Còn nhiều nữa... Rồi họ kết luận cha có số đào hoa, đi đâu cũng được đàn bà săn đón, chẳng lo không có chốn ăn ngủ. Mẹ nghe được rồi im lặng. Tôi cũng im lặng nhưng lòng thì nhói lên bao giận hờn, trách cứ, có cả niềm thương bản năng dành cho mẹ. Cha có số đào hoa. Còn mẹ thì có số gì? Hay mẹ không nhận ra mình đang có trong tay một báu vật, để cả đời cun cút ôm khổ cực vào mình?
Tôi lớn lên, gương mặt giống cha như đúc, khiến ai đó trong làng nhìn tôi cũng lấy làm e ngại. Họ sợ tôi sau này cũng sẽ như cha. Con nhà tông không giống lông cũng giống cánh. Nhưng tôi biết, sẽ chẳng bao giờ tôi giống cha. Tôi ghét gương mặt của mình và rất ít soi gương. Tôi sợ nhìn vào gương, lại phải gặp cha. Để rồi tôi lại tự dằn vặt, sao gương mặt tôi không giống gương mặt của mẹ?
Hân bảo: "Tính Sơn chẳng giống với gương mặt tẹo nào!". Tôi cười cười: "Mặt Sơn làm sao?". Hân bảo: "Thì có chút gì đó lãng tử, góc cạnh... Những người mang gương mặt như thế chẳng ai hiền lành...". Hân ngập ngừng không nói hết câu. Tôi cũng không nói gì, chỉ nhủ thầm trong bụng: "Sẽ chẳng bao giờ giống đâu, Hân!".
Hân đến xóm trọ này trước tôi, nên tính tình ai thế nào đều biết cả. Khi tôi đến xóm này, người đầu tiên tôi gặp là Hân. Hân vui vẻ làm quen rồi cho tôi biết tính tình của mỗi người trong xóm trọ để tôi dễ bề ứng xử. Mãi sau này tôi mới biết, ấn tượng đầu tiên của Hân về tôi chính là gương mặt. Nó làm Hân suốt đêm nghĩ về tôi. Tôi không hề vui vì điều đó nhưng vẫn quý Hân.
Khi còn ở nhà, tôi vẫn hằng nung nấu ý định đi xa. Tôi muốn đi thật xa, để không còn phải chạm mặt cha mỗi năm vài ba lần. Tôi cũng muốn làm được thật nhiều tiền để mẹ bớt khổ, bù đắp cho mẹ những năm vò võ một mình nuôi tôi. Bởi thế, khi đi học xa nhà, tôi không bù khú bạn bè, không liên hoan này nọ mà chúi đầu vào học. Mỗi năm chỉ về nhà một lần vào đúng dịp Tết. Thời gian ấy, cha sẽ không về.
Hân học trường Mỹ thuật, còn tôi học trường Văn hóa. Tôi và Hân học sáng, còn buổi chiều ở nhà thỉnh thoảng vẫn sang phòng nhau chơi, nói chuyện. Chị Vân bảo: "Hai đứa này giống như chim câu, suốt ngày quấn lấy nhau thôi. Chuẩn bị nồi niêu góp gạo thổi cơm chung đi nhé!". Lúc ấy, Hân cười ngượng nghịu. Thế mà tôi và Hân thổi cơm chung thật! Tôi thường đi làm về muộn nên Hân đảm trách việc nấu cơm, còn tôi có nhiệm vụ rửa bát. Tôi cảm thấy vui khi ăn cơm chung với Hân, tiết kiệm thì khoan nói, nhưng được gần hơn với không khí gia đình. Những bữa cơm làm tôi đỡ nhớ nhà hơn. Nhiều bữa đi làm về, thấy Hân vẫn đợi cơm mình, tôi lấy làm cảm động. Tôi bảo: "Sơn đi làm về muộn, Hân cứ ăn trước đi!". Hân bảo: "Có mấy người đâu, đợi Sơn về ăn cho vui cũng được mà!".
Hân người Bắc, gia đình cũng ở quê nhưng khá giả hơn nhà tôi. Bởi thế, Hân không phải lo nhiều về các khoản chi tiêu mà có thời gian học hành. Tôi thì từ năm đầu đã chạy toáng tìm việc làm thêm. Hết chạy bàn đến bảo vệ. Cuối cùng đi làm gia sư. Được một thời gian thì tôi bỏ. Lý do hết sức cay nghiệt, khiến tôi càng ngày càng ghét gương mặt mình.
Trong khi đợi đứa con ăn uống, tắm táp, bà chủ nhà tiếp đón tôi rất ân cần. Bà nhìn tôi bằng ánh mắt đắm đuối. Bà khen tôi có gương mặt điển trai, lãng tử. Tôi ngồi im lặng. Đến khi bà có những hành động quá thân mật thì tôi vùng dậy, tất tưởi đạp xe về nhà, vừa đi vừa rủa thầm gương mặt mình. Tôi bị trời đày nên phải mang gương mặt của cha nhưng tôi đâu phải là ông ấy. Tôi sẵn sàng đổi mặt của mình cho ai đó, dù gương mặt ấy có sứt sẹo.
Tôi cứ chật vật vậy mà đi hết năm một, năm hai rồi đến năm ba. Mẹ thỉnh thoảng viết thư ra, hỏi tôi có thiếu thốn gì thì bảo mẹ, đừng gắng chịu kẻo rồi lại ốm. Mẹ bảo tôi, nếu khó khăn quá thì tìm đến cha. Tôi ậm ừ cho qua nhưng sẽ chẳng bao giờ tôi đến. Mẹ khổ nhiều rồi, tôi không muốn mẹ phải khổ thêm vì mình nên càng cố gắng vượt qua. Tôi chỉ thương mẹ, chừng nào còn gắn bó với cha, chừng đó mẹ còn khổ nhiều. Hôm trước, mẹ điện thoại ra thăm hỏi tình hình của tôi, sau đó mới bảo: "Cha mới mua cho mẹ chiếc ti vi màu mười lăm inch". Giọng mẹ nhỏ thé nhưng chất chứa bao niềm vui trong đó. Tôi như chết lặng, mắt cay xè nhưng chẳng nói được câu nào. Cũng được. Tôi đi cả năm như vậy, ở nhà mẹ không có ai bầu bạn thì chiếc ti vi là chỗ dựa của mẹ thay tôi. Còn tôi ngoài này thì đã có Hân.
Càng ngày tôi và Hân càng cảm thấy không thể xa nhau. Hân chăm chút cho tôi từng bữa cơm, bù lại, tôi quan tâm đến Hân nhiều hơn bằng những hỏi han, chia sẻ mỗi lúc Hân buồn. Không có vật chất, tôi bù lại bằng tình cảm. Tôi không có được vẻ ngoài mạnh mẽ nhưng tôi sẽ che chắn, bảo vệ Hân khi cần thiết.
Ý nghĩ về mẹ luôn ám ảnh tôi. Tôi nguyện sẽ luôn thương yêu, chăm sóc cho người mình yêu, để người ấy không phải thiệt thòi như mẹ. Tôi quyết không thể như cha mình. Hân vui vẻ đón nhận tình cảm của tôi. Điều đó làm tôi hạnh phúc. Cõ lẽ Hân là người con gái tôi yêu nhưng cũng là người tôi mang nợ. Tôi quên sao được những lần Hân đợi cơm, những bữa cơm mà Hân luôn khéo léo dung hòa khẩu vị hai đứa. Bởi vì tôi và Hân sống ở hai miền khác nhau, giọng nói khác, cách ăn uống cũng khác.
Đến một ngày, Hân bảo: "Hân phải chuyển đi!". Tôi hỏi: "Hân chuyển đi đâu?". Hân bảo: "Đến ở cùng bạn, bạn Hân đang có chuyện buồn!". Vậy là Hân đi. Tôi cảm thấy buồn vì trước giờ tôi vẫn quen với việc có Hân bên cạnh. Những bữa cơm từ nay chỉ có mình tôi. Hân có lý do chính đáng nên tôi không thể níu kéo. Hơn nữa, chỗ tôi trọ và chỗ Hân chuyển đến cũng không xa là bao, hằng tuần tôi vẫn có thể lóc cóc đạp xe tới thăm Hân được. Tôi nhờ Hân chuyển lời hỏi thăm tới người bạn, vì thỉnh thoảng người bạn ấy vẫn đến phòng tôi và Hân chơi. Hân mỉm cười gật gật đầu rồi đạp xe đi. Tôi nhìn những vòng xe chậm rãi, thanh thản mà trong lòng lại nhói lên một cảm giác bất an.
Tôi không đi chạy bàn nữa mà chuyển sang làm diễn viên trình diễn nhân tượng. Công việc tuy lương không cao nhưng nhàn hơn chạy bàn. Phải tập theo đoàn nên dù nhớ Hân đến mấy cũng phải sang tuần sau tôi mới đến thăm Hân được. Hân mỉm cười chào tôi. Bạn Hân niềm nở tiếp tôi. Cô ấy không có vẻ gì của người vừa trải qua một nỗi buồn ghê gớm.
Nhiều lúc tôi thầm cảm ơn sự nhạy cảm của mình. Nhưng lúc này, tôi lại không hề muốn nó xuất hiện. Nó làm tôi nhói đau khi nghĩ Hân đang trốn chạy tôi. Nếu không thì việc gì Hân phải chuyển đi. Hân tiếp tôi bằng một vẻ gượng gạo mà một người bình thường khó nhận ra. Tôi ngồi chơi một lúc, biết rằng Hân tất cả đều ổn làm tôi cảm thấy yên tâm. Tôi chào Hân và bạn rồi lủi thủi dắt xe ra về, sau lưng vẫn còn vướng vất câu hỏi của bạn Hân: "Mày đã nghĩ kỹ chưa?" nhưng không nghe tiếng Hân trả lời.
Gần đến ngày biểu diễn, tôi ít có thời gian tới thăm Hân. Hân cũng ít về xóm trọ cũ thăm tôi và những người bạn trước đó. Tôi mệt nhoài vì công việc, vì Hân. Dù thế, tôi vẫn mong sẽ không có chuyện gì không hay xảy ra cho mình. Bởi vì quả thực tôi không thể thiếu Hân được nữa. Hân là chỗ dựa cho tôi những ngày xa nhà. Cả tôi và Hân đều thông hiểu nhau mọi thứ đến khó mà thiếu mà quên được.
Ngày biểu diễn đầu thành công tốt đẹp. Khu triển lãm đông nghịt người. Sân khấu để biểu diễn nhân tượng chỉ chiếm một khoảng không hẹp nhưng thu hút nhiều người xem. Ai cũng ngắm nhìn một cách say sưa, chốc chốc lại trầm trồ khen ngợi khiến tôi và bạn diễn hết sức hài lòng. Loại hình nghệ thuật này rất phổ biến ở phương Tây nhưng mới xuất hiện ở Việt Nam. Tôi và bạn diễn phải hóa trang bằng một loại mỹ phẩm đặc biệt và chỉ mặc trên người đồ ôm sát thân. Tùy theo nội dung và chủ đề, diễn viên sẽ được hóa trang với những hoa văn, màu sắc, tranh ảnh cho phù hợp. Phải mặc đồ ôm sát, đứng trơ ra để hàng trăm con mắt nhìn vào, tôi cũng thấy ngại. Nhưng nghĩ đến mẹ, tôi lại bỏ qua mọi thứ. Hơn nữa, khi tôi đã hóa trang rồi, đâu còn ai nhìn ra tôi nữa.
Buổi diễn ngày thứ hai càng đông khách hơn, vì mọi người đều có vẻ rất tò mò về loại hình nghệ thuật mới này. Tôi và bạn diễn phải hóa trang trong ba tiếng đồng hồ, sau đó phải biểu diễn trong bốn tiếng nữa; cứ khoảng hai mươi đến ba mươi phút phải thay đổi tư thế một lần. Kể ra cũng vất vả nhưng nhìn thái độ thích thú của khách, tôi và bạn diễn có thêm động lực để diễn một cách say sưa.
Tôi nhìn vào đám đông, bắt gặp những ánh mắt vừa ngạc nhiên lẫn thích thú của khách. Bất chợt, tim tôi thót lại khi trông thấy Hân đi về phía mình. Lỡ Hân nhận ra tôi thì làm thế nào? Nhiều bạn diễn của tôi đã phải dừng công việc chỉ vì người thân không đồng ý. Thậm chí, có người đã phải chia tay với người yêu vì không mấy người có thể thông cảm với loại công việc lạ lùng này. Tôi bỗng trở nên luống cuống: Hân sẽ nghĩ gì về tôi?
Tôi cố gắng bình tĩnh để không làm hỏng buổi biểu diễn. Và thật may là Hân không nhận ra tôi. Nhưng tôi lặng người đi khi nhận ra Hân không đi một mình, mà cùng một người đàn ông trung niên. Hân nắm tay người đó tiến lại gần tôi, miệng không ngớt nói cười. Toàn thân tôi tê dại. Người đàn ông ấy là cha tôi! Không thể lẫn được. Gương mặt lãng tử hào hoa khiến tôi nhận ra ông ngay, vì chính tôi cũng đang mang một gương mặt như vậy. Tai tôi ù đi, chỉ nghe loáng thoáng tiếng Hân vừa háo hức vừa nũng nịu: "Anh và em cược xem là người hay tượng nhé? Em cam đoan là tượng!". Hân lăng xăng như một đứa trẻ lên ba đang được đi chơi.
Vì cá cược nên Hân đưa tay ra nhéo vào bắp chân tôi một cái. Lạ thay, tôi không hề cảm thấy đau ở chân chút nào. Nhưng cái đau chạy vào tim thì buốt nhói. Khi biết tôi là người thì mặt Hân xịu xuống, chấp nhận thua bằng một nụ hôn vào má. Dù thua nhưng ánh mắt Hân lại tràn trề ánh sáng hạnh phúc. Hai người lại tíu tít chụp ảnh. Trong những bức ảnh của Hân rồi sẽ có tôi, nhưng chắc chắn Hân chẳng bao giờ nhận ra.
Tôi cứ đứng đờ ra ngơ ngác. Và vì đang giả tượng nên tôi không được nháy mắt hoặc có bất cứ động tác nào dù rất nhỏ. Trái tim đang đau thắt, nhưng tôi không được quyền cử động. Tại sao Hân lại làm thế...? Càng lúc tôi càng khó thở, tức ngực. Tôi không thể bỏ buổi diễn để chạy đến với Hân. Có nghĩa là tôi sẽ mất Hân!
Vì sao?
Không ai trả lời tôi. Tôi vẫn đứng như thế, cố không để nước mắt chảy ra làm loang mỹ phẩm hóa trang trên mặt. Nước mắt phải chảy ngược vào trong, dường như mặn hơn, xót hơn so với lúc bình thường. Tôi thèm được vỗ về, thèm có được cảm giác bình yên. Và thế là, tôi nghĩ về mẹ. Nhiều năm qua, tôi cứ đinh ninh là trái tim của mẹ đã chai sạn, trơ cằn trước những khổ đau mà mẹ nếm trải. Những khổ đau ấy toàn do cha gây ra. Và mẹ có quyền giải thoát chính mình. Nhưng mẹ vẫn cam chịu. Giờ thì tôi đã biết, biết rất rõ. Đơn giản vì mẹ không phải là đá.
Còn tôi, số phận đã ưu ái hay tàn nhẫn bắt tôi mang gương mặt của cha? Trong nỗi đau cùng cực, tôi chỉ mong mình trở thành đá. Thực sự biến thành đá.
Vì đá thì chắc không thấy đau...?
H.H.S